CUNG CẤP DỊCH VỤ TƯ VẤN VÀ ĐẠI DIỆN PHÁP LÝ THÂN THIỆN - HIỆU QUẢ                                                                                                         LUÔN ĐEM LẠI THÀNH CÔNG BỀN VỮNG

JA slide show
Đảo nợ hợp pháp hay bất hợp pháp? PDF. In Email

Tg: Luật sư Nguyễn Minh Vọng

Thực tiễn pháp lý

Đảo nợ được nhắc đến trong thực tiễn với một vài tên gọi khác nhau như “đáo hạn” trong các dịch vụ tài chính, dịch vụ đáo hạn (tín dụng đen) hay như “cơ cấu tài chính” ....và gần đây từ 2009 đến 2010, người ta nhắc nhiều đến đảo nợ khi thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất trong gói kích cầu của Chính Phủ với một quan điểm “nghiêm cấm đảo nợ” để tránh thất thoát nguồn tiền hỗ trợ của Chính phủ.

Dưới góc độ pháp lý, đảo nợ được nhắc đến trong nhiều văn bản liên quan đến chính sách về cho vay của nhà nước.

Tại khoản 4 điều 54 Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) số 07/1997/QHX quy định: “Tổ chức tín dụng được miễn, giảm lãi suất, phí; gia hạn nợ; mua bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Việc đảo nợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ”. Luật này đã được thay bằng Luật các TCTD 2010 nhưng không có từ nào về đảo nợ.

Văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại khoản 2 Điều 9 Quy chế cho vay ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN, quy định “Việc đảo nợ, các tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định riêng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tại điểm c khoản 4 Điều 14 (vi phạm về cho vay) Nghị định số 202/2004/NĐ-CP 10/12/2004 có quy định “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau: ....c) Miễn giảm lãi suất; gia hạn nợ gốc hoặc lãi, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc và lãi; đảo nợ không theo quy định của pháp luật”

Vậy đảo nợ là gì? và thế nào là đảo nợ không theo quy định của pháp luật?. Nhiều quan điểm cho rằng một từ hiển nhiên thì không nhất thiết phải quy định cụ thể, nhưng cũng có quan điểm cho rằng cần phải cụ thể hóa để có cơ sở áp dụng.

Quay lại vấn đề đảo nợ để hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất, mục tiêu của nhiều doanh nghiệp là tất toán khoản nợ cũ và vay lại ngân hàng để được hỗ trợ lãi suất cho vay 4%/năm. Khoản nợ đó có thể đã quá hạn hoặc đang trong hạn. Về quan điểm này, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu khi đó có phát biểu “...cho vay doanh nghiệp tại một ngân hàng để trả nợ cho chính ngân hàng đó hoặc trả nợ cho một ngân hàng khác, được coi là hành vi đảo nợ. Còn trả nợ trước hạn hoặc đến hạn trả nợ, khách hàng thanh toán nợ cũ, vay nợ mới là chuyện bình thường. Muốn vay lại, phải tuân thủ nghiêm ngặt Quy chế tín dụng 1267 với điều kiện có phương án sản xuất khả thi.” Ngoài ra “Luật pháp nghiêm cấm triệt để hành vi đảo nợ trong bất luận trường hợp nào. Bởi vì, một nền kinh tế chấp nhận cho vay đảo nợ, tức là chấp nhận cách làm ăn không mang lại hiệu quả, đồng thời gây thất thoát tài sản, chưa kể gây rối ren trong công tác quản lý” – lược trích lời trả lời báo chí của Thống đốc NHNN ngày 23/03/2009[1]

Như vậy NHNN cấm đảo nợ trong hoạt động hỗ trợ lãi suất và quán triệt đảo nợ nói chung trong khuân khổ của Quy chế cho vay số 1627.

Trong việc cho vay và trả nợ nước ngoài, một trong những yêu cầu cơ bản trong công tác quản lý vay, trả nợ nước ngoài của Chính phủ thì hoàn toàn được phép đảo nợ theo 5 Điều 9 của Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2005, cụ thể là “Thực hiện các biện pháp cơ cấu lại nợ, đảo nợ, vay mới trả cũ ... và các biện pháp quản lý nợ hiện đại trên cơ sở phân tích danh mục nợ, nắm bắt điều kiện thị trường nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng, hối đoái và chi phí đối với ngân sách nhà nước trong công tác vay và trả nợ nước ngoài

Và tại khoản 2 Điều 11 quy định về nguồn vay thương mại nước ngoài của Chính phủ chỉ được sử dụng cho các mục đích sau: “....- Để đảo nợ nước ngoài của Chính phủ theo nguyên tắc đảm bảo có lợi và với chi phí thấp nhất cho ngân sách nhà nước”.

Đối với nợ công thì Luật quản lý nợ công số 29/2009/QH12 ngày 17/06/2009 quy định “cấu lại danh mục nợ là việc thực hiện nghiệp vụ nhằm cơ cấu lại từng khoản nợ trong danh mục nợ, bao gồm đảo nợ, chuyển đổi, mua bán lại nợ, hoán đổi đồng tiền, lãi suất và các nghiệp vụ khác để giảm thiểu nghĩa vụ trả nợ, hạn chế rủi ro.” Và cũng quy định rõ “Đảo nợ là việc vay mới để trả một hoặc nhiều khoản nợ hiện có

Như vậy, đối với khu vực nợ công, nợ Chính phủ thì đảo nợ được chấp nhận còn khu vực doanh nghiệp, cá nhân thì pháp luật chưa có quy định rõ ràng mặc dù về nguyên tắc là NHNN cấm các TCTD cho vay đảo nợ. Trước đây Quy định về cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng là người cư trú (Điều 1, Quyết định 966/2003/QĐ-NHNN ngày 22/8/2003) quy định cho phép vay ngoài tệ “để trả nợ nước ngoài trước hạn, nếu khoản vay có đủ các điều kiện sau: Dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh sử dụng khoản vay nước ngoài đó có hiệu quả; doanh nghiệp có khả năng trả nợ gốc và lãi vốn vay bằng ngoại tệ; tiết kiệm được chi phí vay vốn so với việc vay vốn nước ngoài”. Văn bản trên đã được thay thế bằng quy định mới nhưng không còn quy định này nữa, tuy nhiên việc vay để thanh toán các khoản vay, khoản trả chậm hàng hóa, dịch vụ trên 12 tháng vẫn được thực hiện nhưng phải đăng ký với NHNN theo quy định về vay, trả nợ nước ngoài.

Ở trong nước việc đảo nợ bị cấm còn thể hiện ở quy định về việc doanh nghiệp muốn giải thể phải thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và với điều kiện là “không dùng vốn vay mới, kể cả đảo nợ, để thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả” (khoản 2 Điều 35 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp)

Như vậy, việc đảo nợ ở nước ngoài thì pháp luật không hạn chế, nhưng trong nước thì lại không được trừ một số trường hợp nhất định.

Cũng cần phải lưu ý đảo nợ giữa các TCTD với nhau là được phép, vì theo Quy chế cho vay giữa các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1310/2001/QĐ-NHNN ngày 15/10/2001 của Thống đốc NHNN, thì không có quy định nào cấm đảo nợ và mục đích vay cũng không được đặt ra.

Thực tiễn cũng cho thấy các TCTD vay lẫn nhau để trả nợ cho các TCTD khác hoặc để phục vụ các mục tiêu thanh khoản, thực hiện chỉ số an toàn khác của TCTD đó. Đấy cũng là đảo nợ nhưng là đảo nợ phục vụ mục tiêu thanh khoản giữa các TCTD vì sự an toàn của hệ thống ngân hàng. Kể cả việc cho vay tái cấp vốn của NHNN cho các TCTD đó cũng vậy. Tuy nhiên cũng có trường hợp NHNN ra điều kiện như vay tái cấp vốn để thanh toán các khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân đến hạn trừ các khoản vay liên ngân hàng.

Như vậy, đảo nợ không phải trường hợp nào cũng là xấu và trái luật, nhưng tại sao đến nay, việc các TCTD cho vay đảo nợ đối với cá nhân, tổ chức vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể?

Tại văn bản số 3142/VPCP-KTTH, ngày 11/6/2002, Văn phòng chính phủ (VPCP) có văn bản trả lời NHNN, Bộ tư pháp, Bộ tài chính, Bộ Kế hoạch – Đầu tư về việc hướng dẫn thực hiện đảo nợ. Theo Đó VPCP có ý kiến “Trước mắt Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tập trung chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai thực hiện tốt đề án xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại; đồng thời áp dụng các biện pháp xử lý nợ theo quy định hiện hành; tạm thời chưa hướng dẫn việc đảo nợ cho khách hàngTrong quá trình nghiên cứu dự thảo sửa đổi Luật Các Tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần chủ động cùng với các cơ quan liên quan nghiên cứu đề xuất xử lý vấn đề nêu trên cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay

Đến nay, Luật TCTD, Luật NHNN 2010 đã ban hành nhưng vẫn không có điều khoản nào quy định về việc này.

Phải chăng để thực hiện những ngoại lệ ở khu vực doanh nghiệp nhà nước hay nhưng chính sách đặc thù cho nền kinh tế, đấy vẫn là những câu hỏi mà chỉ những người thi hành mới có thể biết. Và đương nhiên nó không công khai.

Tại sao cần phải ban hành quy định về đảo nợ

Trong phạm vi phân tích dưới đây, thì chủ yếu bàn về phương thức mà doanh nghiệp, cá nhân vay TCTD. Việc đảo nợ được thực hiện khá tinh vi mà nếu không cẩn thẩn thì sẽ tưởng là không vi phạm hoặc nhầm với các vi phạm khác. Ví dụ Doanh nghiệp A vay ngân hàng B, tình hình kinh doanh và trả nợ tốt nhưng do muốn chuyển quan hệ sang ngân hàng C cho thuận lợi hoặc có ưu đãi hơn. Trong trường hợp này, các bên phải ngồi với nhau để thực hiện việc mua bán nợ để chuyển từ ngân hàng B sang ngân hàng C nhưng nếu không đàm phán được mà ngân hàng C cho vay Doanh nghiệp A để trả nợ B là hành vi đảo nợ bị nghiêm cấm. Một mục đích nhưng hai cách làm khác nhau có cách vi phạm, có cách không vi phạm.

Cũng ví dụ trên, nếu khoản nợ của Doanh nghiệp A quá hạn, lãi suất quá hạn cao khiến cho A phải nhờ C cho vay để trả nợ cho ngân hàng B (hoặc ngân hàng B muốn giải quyết nợ xấu hoặc động cơ cá nhân khác), thì trường hợp này khó có thể đàm phán mua bán nợ vì khi đó ngân hàng C không muốn mua nợ đã quá hạn, nếu ngân hàng C cho vay để thanh toán nợ cho B thì rõ ràng lại là vi phạm quy định về đảo nợ. Thực tiễn ngân hàng C cũng như các ngân hàng khác không làm theo cách này nhưng có nhiều hành vi tinh vi để lách luật như: khoản vay tại C núp dưới một dự án do A lập ra và sau đó giải ngân cho nhà cung cấp đầu vào của Doanh nghiệp A, giả sử là D, thì sau khi giải ngân cho D (hoặc một số doanh nghiệp khác) thì D rút tiền mặt và bằng cách nào đó đưa cho A đi trả nợ.

Cách này có thể được sử dụng nhưng hành vi trên phải bị coi là đảo nợ và bên cạnh đó còn có hành vi cho vay không đúng mục đích vì cuối cùng, doanh nghiệp không sử dụng vốn vay, dự án sử dụng vốn không khả thi mặc dù nếu chỉ nhìn vào hồ sơ tín dụng từ khi phê duyệt đến khi cho vay là đầy đủ, nhưng nếu kiểm tra việc sử dụng vốn cũng như hiệu quả dự án thì sẽ phát hiện ra nhưng khi đó tiền đã cho vay ra rồi. Hai vấn đề cho vay đúng mục đích, cho vay thực hiện phương án sản xuất kinh doanh khả thi có liên quan chặt chẽ với việc đảo nợ nhưng khi quyết định cho vay các TCTD chỉ đánh giá về mặt hồ sơ có khả thi hay không mà không thể đánh giá thực tế sau này việc sử dụng vốn do đó đã cấu thành đảo nợ hay không.

Chính vì thế trong khái niệm của Luật quản lý nợ công định nghĩa khá đầy đủ, chặt chẽ rằng “Đảo nợ là việc vay mới để trả một hoặc nhiều khoản nợ hiện có”.

Khoản nợ được đảo dù ở chính TCTD hay ở TCTD khác đều thuộc diện đảo nợ không phụ thuộc vào cách thức vay, cách thức chuyển vốn như thế nào và do ai thực hiện. Tuy nhiên khái niệm trên chỉ dùng để áp dụng cho các khoản nợ công.

Đối với khu vực tài chính doanh nghiệp và cá nhân ở góc độ thực tiễn, nhu cầu đảo nợ là có thật và dịch vụ đảo nợ trên thực tế vẫn có đất phát triển. Mặc dù các dịch vụ đó là "núp bóng". Nhà nước khó quản lý hơn rất nhiều nếu không có một chế định về vấn đề này.

Rủi ro từ đảo nợ là hiện hữu và nó làm méo mó số liệu và chất lượng tín dụng ngân hàng. Như Thống đốc Nguyễn Văn Giàu có nói, “Luật pháp nghiêm cấm triệt để hành vi đảo nợ trong bất luận trường hợp nào. Bởi vì, một nền kinh tế chấp nhận cho vay đảo nợ, tức là chấp nhận cách làm ăn không mang lại hiệu quả, đồng thời gây thất thoát tài sản, chưa kể gây rối ren trong công tác quản lý”.

NHNN muốn cấm thì cần có đề xuất Chính phủ hướng dẫn cụ thể hơn nữa, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà nền kinh tế suy thoái, sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, bất động sản trầm lắng, nhu cầu đảo nợ trái luật tăng đột biến và lan rộng làm lung lay nhiều chế định tài chính nơi mà ý thức đạo đức nghề nghiệp, các chuẩn mực quản trị còn non và chưa đủ sức gánh chịu lại những cám dỗ.

Việc xây dựng chế định về đảo nợ cần thiết và theo hướng chi tiết để tránh chuyện mượn cớ pháp luật chưa có quy định cụ thể nên cứ mập mờ để thực hiện, thiết nghĩ cần định nghĩa theo khái nhiệm đảo nợ của Luật quản lý nợ công (loại trừ nợ công, nợ nước ngoài, các khoản nợ khác mà TTg chính phủ chấp thuận; nợ giữa các TCTD). Có thể tham khảo khái niệm sau: “Đảo nợ: Là việc tổ chức, cá nhân (trừ tổ chức tín dụng) vay tại TCTD này để trả nợ cho tổ chức tín dụng đó và/hoặc trả nợ cho tổ chức tín dụng khác” đồng thời diễn giải các trường hợp sau đây được coi là vi phạm:

ü  Dùng toàn bộ, một phần khoản vay để trả nợ cho một phần hoặc toàn bộ khoản vay khác hoặc nhiều khoản vay khác nhau tại một hoặc nhiều tổ thức tín dụng khác nhau;

ü  Bên vay thông qua tổ chức, cá nhân khác để chuyển nguồn vốn vay thông qua các cách thức khác nhau để trả khoản nợ của chính Bên vay tại TCTD khác mà không có bất kỳ sự bù trừ nghĩa vụ nào một cách phù hợp;

Ví dụ: Doanh nghiệp A vay của doanh nghiệp D để trả nợ ngân hàng C, sau đó A vay của ngân hàng E để thanh toán nợ cho D (bằng các cách khác nhau, như hợp đồng mua bán khống);

Hoặc A vay của ngân hàng C, để thanh toán Hợp đồng khống với doanh nghiệp D, sau đó để D dùng vốn đó trả cho ngân hàng B hoặc đưa lại cho chính A trả nợ cho B.

ü  Ngân hàng C cho vay để doanh nghiệp A để thực hiện hợp đồng với D nhưng doanh nghiệp D dùng tiền trả nợ Ngân hàng C từ nguồn thu đó nhưng khi cho vay, ngân hàng C xác định phương án cho vay A không khả thi nhưng mục đích chính là giảm nợ xấu tại chính mình nên biết trước việc cho vay để trả nợ (Trường hợp này bình thường có thể bị nhầm lẫn với nhóm hành vi vi phạm quy định về cho vay khác mà không phải đảo nợ);

ü  Ngân hàng C mua nợ của doanh nghiệp A tại ngân hàng B, sau khi mua nợ thì ngân hàng C phân loại nợ vào nhóm thấp hơn (do hệ thống xếp hạng và phân nhóm khác nhau) và cơ cấu lại nợ theo hướng từ quá hạn thành trong hạn (không phụ thuộc vào cách thức cơ cấu lại).



[1] Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam: http://vneconomy.vn/20090322113522893P0C6/khong-chap-nhan-cho-vay-dao-no.htm

 

Công ty TNHH Định giá và Đấu

giá tài sản Bảo Minh (BMAC)

(Call: 0915512295)

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay7
mod_vvisit_counterHôm qua159
mod_vvisit_counterTrong tuần403
mod_vvisit_counterTrong tháng1879
mod_vvisit_counterTất cả48190
Hiện có 2 khách Trực tuyến